Đổi Tiền Hàn Quốc Sang Việt Nam Đồng, 1 Won, 1000 Won, 1 triệu Won bằng bao nhiêu tiền Việt Nam Đồng ?

Bạn đang có nhu cầu đổi tiền Hàn Quốc ? Bạn đang có nhu sang Hàn Quốc du lịch, công tác, chữa bệnh hoặc thăm người thân. Bạn muốn tìm hiểu về tỉ giá tiền Hàn Quốc hôm nay để chuyến đi của mình thêm thuận lợi. Hãy cùng chúng tôi tham khảo  nhé

Tiền Hàn Quốc có tên gọi là gì ? Won là gì 

Tiền Hàn Quốc có tên gọi là Won (tiếng Hàn: 원, tiếng Việt: uôn, kí hiệu: KRW và ₩). Mã ISO 4217 của đồng tiền Won Hàn Quốc là KRW, ký hiệu quốc tế là ₩.

Đồng Won của Hàn Quốc ra đời ngày 09/6/1962. Tiền Won của Hàn Quốc do ngân hàng trung ương Hàn Quốc (Bank of Korea, KOB) phát hành và được in/đúc bởi công ty KOMSCO (Korea Minting and Security Printing Corporation). Trước đó, Hàn Quốc sử dụng loại tiền cũ có tên gọi là Hoàn (환/Hwan).

Tiền Won đang sử dụng là thế hệ tiền won thứ 2. Trước đó, từ tháng 10/1945 ~ tháng 4/1951, Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên sử dụng chung loại tiền Won thế hệ đầu tiên. Trong giai đoạn này, tên gọi tiền Won xuất phát từ chữ Viên trong tiếng Hán (원/圓), có nghĩa là hình tròn, chỉ hình dáng của đồng tiền. Đây cũng là cách gọi đơn vị tiền tệ của Trung Quốc (yuan) và Nhật Bản (yen).

TỈ GIÁ TIỀN HÀN HÔM NAY

1 Won (KRW) bằng bao nhiêu tiền Việt Nam? Tỷ giá đồng Won Hàn Quốc. 1000 won bằng bao nhiêu tiền Việt, 1000 won = vnd, 10000 won = vnd

1. 1 Won (KRW) bằng bao nhiêu Việt Nam đồng? Tỷ giá đồng Won hôm nay (tỉ giá ngân hàng VietcomBank 2019)

Mã Tiền

Tên ngoại tệ Mua

 

tiền mặt

Mua

 

chuyển khoản

Bán
KRW

SOUTH KOREAN WON

17.98

18.93

20.53

USD

US DOLLAR 23.31 23.31

23.43

Tỷ giá tiền Won (KRW) Hàn Quốc ngày hôm nay – được quy đổi 1 Won Hàn Quốc (KRW) ra tiền đồng Việt Nam.

 

Tỷ giá đồng Won Hàn Quốc (ngân hàng bán ra)

1 won của Hàn Quốc có giá trị rất nhỏ không tiêu được. Nếu bạn đang có ý định sang Hàn Quốc học tập và công tác thì nên hỏi “1000 Won bằng bao nhiêu Việt Nam Đồng” nhé! Tôi sẽ chuyển đổi tỉ giá cụ thể theo ngân hàng Vietcombank BÁN RA hôm nay như sau:

+ 1 won = 20.53vnd ( 1 won là nhỏ nhất chỉ có dạng tiền xu ( xem phần sau), mà 20 đồng thì Việt Nam còn không tiêu được nữa là Hàn Quốc )

+ 1000 won = 20,530 vnd ( 20 ngàn đồng bắt đầu tiêu được rồi 😀 )

+ 10.000 won = 205,300vnd ( Bạn có thể đi siêu thị mua đồ ăn uống được rồi )

+ 100.000 won = 2,053,.000 vnd ( Bạn chi tiêu mua sắm quần áo, tiêu lặt vặt được rồi )

+ 1.000.000 won = 20,530,000 vnd ( Nếu làm ra được số tiền này/tháng bạn nên tiết kiệm để đóng tiền học 🙂 )

Nếu trong tay bạn đang có 1 sấp tiền Hàn Quốc thì qua bảng quy đổi trên. Các bạn có thể biết mình đang có bao nhiêu tiền Việt trong tay phải không ạ? Tuy nhiên đây chỉ là giá tham khảo mang tính chất tương đối vì khi ra ngân hàng hoặc quy đổi tiền tệ thì giá sẽ khác nhau. Vì tỷ giá này thay đổi theo từng giờ, từng phút nên bạn hãy tham khảo trước khi đổi để được kết quả chính xác.

Ngân hàng mua chuyển khoản:

+ 1 Won = 18.93 Vnd (Mua chuyển khoản).

+ 1000 Won = 18,930 Vnd (Mua chuyển khoản).

+ 10.000 Won = 189,300 Vnd (Mua chuyển khoản).

+ 100.000 Won = 1,893,000 Vnd (Mua chuyển khoản).

+ 1.000.000 Won – 18,930,000 Vnd (Mua chuyển khoản).

Won là đơn vị tiền tệ của Hàn Quốc

Won là đơn vị tiền tệ của Hàn Quốc

3. Lịch sử đơn vị tiền tệ Hàn Quốc

Đồng Won (KRW, kí hiệu: ₩) là đơn vị tiền tệ chính thức của Hàn Quốc. Đồng Won gồm cả hình thức tiền kim loại (6 loại) lẫn tiền giấy (4 loại). Các loại tiền kim loại gồm đồng 1 won, đồng 5 won, đồng 10 won, đồng 50 won, đồng 100 won và đồng 500 won. Các loại tiền giấy gồm tờ 1000 won, tờ 5000 won, tờ 10.000 won và tờ 50.000 won.

Mặt trước và mặt sau của 6 đồng tiền xu Hàn Quốc

+ Mệnh giá các đồng tiền Won Hàn Quốc lưu thông dạng đồng xu

  • 1 Won: là loại tiền xu bằng nhôm, màu trằng.
  • 5 Won: loại tiền xu bằng hợp kim đồng và kẽm, màu vàng.
  • 10 Won: loại tiền xu bằng hộp kim đồng và kẽm màu vàng hoặc hợp kim đồng và nhôm màu hồng.
  • 50 Won: loại tiền xu bằng hợp kim đồng, nhôm và nickel, màu trằng.
  • 100 Won: loại tiền xu bằng hợp kim đồng và nickel, màu trắng.
  • 500 Won: loại tiền xu bằng hợp kim đồng và nickel, màu trắng.

+ Mệnh giá các đồng tiền Won Hàn Quốc tiền tệ lưu thông dạng tiền giấy

tiền giấy của Hàn Quốc

  • 1000 Won: tiền giấy, màu xanh da trời.
  • 5000 Won: tiền giấy, màu đỏ và vàng.
  • 10000 Won: tiền giấy, màu xanh lá cây.
  • 50000 Won: tiền giấy, màu cam

Chú ý: Hiện nay, do những đơn vị sử dụng của đồng tiền ngày càng tăng . Nên những đồng xu 1 won, 5 won dần dần không còn được lưu thông rộng rãi nữa. Chúng trở nên khá hiếm, bạn sẽ khó tìm thấy chúng. Những mệnh giá lớn từ 100.000 won thì người ta sử dụng séc. Tuy nhiên, chính phủ Hàn Quốc cũng đang có dự định sẽ phát hành tờ tiền có mệnh giá 100.000 won.

50.000 Won bằng bao nhiêu tiền Việt

50.000 Won bằng bao nhiêu tiền Việt

Những hình vẽ trên các tờ tiền có mệnh giá sẽ khác nhau, nhưng chúng đều thể hiện 1 phần nào đó văn hóa Hàn Quốc. Thông qua các hình ảnh nhân vật hay đồ vật tượng trưng của Hàn Quốc xuất hiện trên các tờ tiền.

Tìm Hiểu Thêm Sơ lược về đồng tiền Hàn Quốc

Đồng tiền không chỉ là công cụ thiết yếu trong xã hội loài người mà còn trở thành một tín hiệu văn hóa, lịch sử và chính trị của mỗi quốc gia. Các quốc gia thường in hình danh lam thắng cảnh, kiến trúc, động thực vật và nhiều nhất là các danh nhân tiêu biểu của dân tộc. Hãy cùng xem thông điệp về văn hoá & lịch sử được truyền tải trên các đồng tiền của Hàn Quốc.

Won là đơn vị tiền tệ của Hàn Quốc được sử dụng chính thức từ ngày 9/6/1962. Tên đầy đủ là Won Đại Hàn Dân Quốc. Mã ISO 4217 của đồng tiền Won Hàn Quốc là KRW, ký hiệu quốc tế là ₩.

Tiền Won đang sử dụng là thế hệ tiền won thứ 2. Trước đó, từ tháng 10/1945 ~ tháng 4/1951, Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên sử dụng chung loại tiền Won thế hệ đầu tiên. Trong giai đoạn này, tên gọi tiền Won xuất phát từ chữ Viên trong tiếng Hán (원/圓), có nghĩa là hình tròn, chỉ hình dáng của đồng tiền. Đây cũng là cách gọi đơn vị tiền tệ của Trung Quốc (yuan) và Nhật Bản (yen).

Nhưng từ thế hệ tiền Won thứ hai phát hành ngày 9/6/1962 Ngân hàng Hàn Quốc tuyên bố không còn dùng Won theo chữ Hán cho chữ này nữa.

Trong giai đoạn từ tháng 4/1951 ~ tháng 6/1962, Hàn Quốc sử dụng đơn vị tiền tệ thay thế cho đồng Won gọi là Hwan (환, Hoàn).

Hàn Quốc sử dụng phổ biến cả tiền giấy và tiền xu. Tiền xu có 6 loại mệnh giá lần lượt là đồng 1 Won, 5 Won, 10 Won, 50 Won, 100 Won và 500 Won. Tiền giấy có 4 loại mệnh giá, lần lượt là 1.000 Won, 5.000 Won, 10.000 Won và 50.000 Won. 1 Won có giá trị bằng 100 thiên (Jeon/전/錢).

Các mệnh giá đồng tiền Hàn Quốc đang áp dụng trong lưu thông:

  • 10 Won: tiền xu kim loại, hợp kim đồng & kẽm, màu vàng/hồng
  • 50 Won: tiền xu kim loại, hợp kim đồng & nhôm & nickel, màu trắng
  • 100 Won: tiền xu kim loại, hợp kim đồng & nickel, màu trắng
  • 500 Won: tiền xu kim loại, hợp kim đồng & nickel, màu trắng
  • 1.000 Won: tiền giấy, màu xanh da trời
  • 5.000 Won: tiền giấy, màu đỏ và vàng
  • 10.000 Won: tiền giấy, màu xanh lá cây
  • 50.000 Won: tiền giấy, màu vàng

10 Won là đồng tiền có mệnh giá nhỏ nhất ở Hàn Quốc và không được sử dụng nhiều. Thậm chí không được sử dụng để nạp thẻ xe bus hay mua hàng trên máy bán hàng tự động. Tuy nhiên, đồng tiền này vẫn rất có ích trong một số trường hợp nhất định. Như khi bạn mua những mặt hàng mà giá thành hơi lẻ một chút.

Đồng tiền giấy 50.000 Won là đồng tiền mệnh giá cao nhất và bắt đầu được đưa vào lưu thông trên thị trường từ năm 2009, tuy nhiên do trị giá cao nên nó cũng không được sử dụng phổ biến trong mua bán hàng ngày.

I – Tiền xu Hàn Quốc

Tiền xu Hàn Quốc có 6 loại mệnh giá, lần lượt là 1 Won, 5 Won, 10 Won, 50 Won, 100 Won và 500 Won. Ngày nay 1 Won và 5 Won không còn được lưu thông, mặc dù chúng vẫn còn giá trị sử dụng.

Bên dưới là bảng thông tin tóm bắt về các mệnh giá tiền xu của Hàn Quốc. Trong quá trình sử dụng, các mệnh giá 10 Won, 50 Won và 100 Won có sự thay đổi về chất liệu và thiết kế, xem chi tiết tại đây.

Mệnh giá Năm đúc Ngày phát hành Sử dụng đến
1 Won 1966 16/8/1966 1/12/1980
5 Won 1966 16/8/1966 1992
10 Won 1966 16/8/1966 vẫn đang sử dụng
50 Won 1972 1/12/1972 vẫn đang sử dụng
100 Won 1970 30/11/1970 vẫn đang sử dụng
500 Won 1982 12/6/1982 vẫn đang sử dụng

Đồng xu 10 Won

Tất cả hình vẽ trên đồng tiền Hàn Quốc đều liên quan đến biểu tượng văn hóa cụ thể. Trên đồng 10 Won là hình tháp Dabo (Đa Bảo Tháp – 다보탑). Đây là tòa tháp tiêu biểu của ngôi chùa nổi tiếng Bulguksa (Phật Quốc Tự) ở thành phố Gyeongju.

Ngôi chùa này được biết tới là một biểu tượng tôn giáo, văn hóa của Hàn Quốc. Bulguksa đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới. Nơi đây đang lưu giữ 7 quốc bảo của Hàn Quốc. Cùng với tháp đá Dabo nói trên là Seokga (Thích Ca Tháp), cầu Cheongun (Thanh Vân Kiều – Cầu Mây Xanh) và tượng Phật bằng đồng dát vàng.

Đồng tiền Hàn Quốc: Giá trị và ý nghĩa các họa tiết
Đồng 10 Won được in hình Đa Bảo Tháp.

Đồng xu 50 Won

Nếu đồng xu 10 Won được khắc hình ảnh văn hóa và lịch sử thì trên đồng 50 Won lại là hình ảnh bông lúa – biểu tượng của nền nông nghiệp lúa nước Hàn Quốc.

Hàn Quốc ngày nay đã trở thành một quốc gia công nghiệp phát triển. Nhưng người dân Hàn Quốc chưa bao giờ quên truyền thống nông nghiệp của đất nước mình. Và cho đến bây giờ, cây lúa vẫn đóng vai trò rất quan trọng với đời sống người dân nơi đây.

Lịch sử Hàn Quốc qua đồng tiền
Đồng 50 Won và hình bông lúa, tượng trưng cho nền nông nghiệp lúa nước của Hàn Quốc.

Đồng xu 100 Won

Mặt trước và mặt sau của 6 đồng tiền xu Hàn Quốc

Tiếp theo đồng xu 50 Won, đồng 100 Won được in hình tướng quân Yi Sun Shin (Lý Thuấn Thần, 1545-1598). Ông được biết đến là một viên tướng thuỷ quân nổi tiếng của triều đại Joseon. Yi Sun Shin lập nhiều chiến công trong các trận chiến chống lại thuỷ quân Nhật giai đoạn 1592-1598.

Yi Sun Shin là một vị tướng yêu nước, nhà chiến lược tài ba của hải quân triều đại Joseon. Ông còn được vinh danh trong 10 vị tướng vĩ đại nhất trong lịch sử hải quân thế giới. Như người Việt Nam vẫn tự hào tưởng nhớ tới tướng quân Ngô Quyền với chiến thắng lừng lẫy đánh đuổi quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938. Trong trái tim của người Hàn Quốc luôn ngự trị hình ảnh của Yi Sun Shin với các trận thắng liên tiếp đánh bại thuỷ quân Nhật.

Chiến thắng vang dội và mang tầm ảnh hưởng lớn của ông có thể kể đến như trận thắng đầu tiên trước quân Nhật vào năm 1592 tại hải phận Okpo, trận Myeongnang năm 1596, trận Noryang năm 1598… Chiến thắng hải quân của ông giúp triều đại Joseon kiểm soát được vùng biển cũng như đánh bại được quân Nhật với việc cắt đứt được nguồn cung cấp cho quân đội Nhật đang chiếm đóng tại bán đảo Hàn Quốc thời bấy giờ.

Đồng 100 Won được in hình chân dung của tướng quân Yi Shun Sin, vị tướng vĩ đại nhất của triều đại Joseon.

Tướng quân Yi Sun Shin từng khích lệ tinh thần quân sĩ bằng khẩu lệnh Liều thì sống, sợ thì chết. Một trận thủy chiến đã đi vào sử sách như một chiến công huyền thoại khi ông đã chỉ huy lực lượng hải quân đánh bại 133 chiến hạm của quân Nhật trong khi đó lực lượng của ông chỉ có 13 tàu chiến nhỏ. Chiến công hiển hách nhất này thể hiện tinh thần chiến đấu quả cảm của binh lính cũng như tài thao lược của ông.

Đồng xu 500 Won

Đồng tiền xu Hàn Quốc có mệnh giá lớn nhất 500 Won được in hình con chim hạc. Đây là một biểu tượng quen thuộc với nhiều quốc gia phương Đông. Còn đối với Hàn Quốc, con chim hạc tượng trưng cho sự phát triển và trường tồn mãi mãi.

Đồng tiền Hàn Quốc: Giá trị và ý nghĩa các họa tiết
Đồng 500 Won với biểu tượng là con hạc, tượng trưng cho sự trường tồn.

II – Tiền giấy Hàn Quốc

Trong giai đoạn từ 1962 ~ 1969, các loại tiền giấy Hàn Quốc có 6 mệnh giá lần lượt là 1 Won, 5 Won, 10 Won, 50 Won, 100 Won và 500 Won. Ngày nay, các loại tiền này không còn được phát hành nữa. Đến tháng 7/1972 thì đồng tiền giấy có đơn vị hàng ngàn đầu tiên mới được phát hành. Đó là đồng 5.000 Won.

Bên dưới là bảng thông tin tóm bắt về các mệnh giá tiền giấy của Hàn Quốc đang sử dụng. Trong quá trình sử dụng, có sự thay đổi về chất liệu và thiết kế, xem chi tiết tại đây.

Mệnh giá Ngày phát hành Sử dụng đến
1000 Won 14/8/1975 vẫn đang sử dụng
5000 Won 1/12/1980 vẫn đang sử dụng
10000 Won 15/6/1979 vẫn đang sử dụng
50000 Won 23/6/2009 vẫn đang sử dụng

Đồng 1.000 Won

Nếu trong các loại tiền xu của Hàn Quốc, chỉ có duy nhất đồng tiền mệnh giá 100 Won có in hình người thì đối với tiền giấy, các hình vẽ trên đó đều là hình các nhân vật nổi tiếng trong lịch sử đất nước này.

Đồng tiền giấy mệnh giá nhỏ nhất là 1.000 Won. Được in hình nhà triết học và là người thầy vĩ đại nhất thời Joseon – Yi Hwang (이왕) (1501-1570). Sinh ra tại huyện Ye-an (ấp Dosan, quận Andong ngày nay). Yi Hwang mồ côi cha và sống với mẹ từ khi lên 2. Yi Hwang được mẹ nhắc nhở phải luôn có cử chỉ cao đẹp và cố gắng học hành hơn người dù hoàn cảnh khó khăn.

Quyết không để sự nghèo đói và không cha làm cho người đời miệt thị, Yi Hwang nỗ lực chú tâm vào việc học hành. 12 tuổi, Yi Hwang chính thức học Luận Ngữ, một trong bộ Tứ thư kinh điển của Nho giáo. Sau đó tiếp tục theo học tại Viện giáo dục danh tiếng nhất thời Joseon, Viện Sungkyunkwan khi 22 tuổi. 11 năm sau đó, ông đỗ đạt qua các kỳ thi cử và giữ nhiều trọng chức như tổng quản, thái sư, quan bộ thư. Nhưng Yi Hwang đã quyết định rời chốn quan trường để trở về quê hương. Ông được triều đình trọng vọng giao phó nắm giữ 140 trọng chức trước khi từ giã cõi đời ở tuổi 70.

Yi Hwang đã từng 79 lần xin từ chức và nói rõ nguyện vọng. Ông không coi trọng quyền cao chức trọng, vinh hoa phú quý. Mà chỉ muốn theo đuổi con đường học vấn để giữ cử chỉ cao đẹp. Ông có hiệu là Toe Gye (Thôi Khê) có nghĩa là lui về trên núi. Dẫu mang trong mình tài năng lỗi lạc và được triều đình hết mực trọng vọng nhưng ông không màng đến danh lợi chốn quan trường mà chỉ mong được lui về ẩn cư, dạy học nơi quê hương.

Nhân vật lịch sử Hàn Quốc
Yi Hwang – Người thầy giáo vĩ đại nhất của triều đại Joseon.

Học thuyết Nho giáo ở Trung Quốc được sáng lập bởi Khổng Tử. Sau đó được phát triển, mở rộng bởi Mạnh Tử đã trở thành tư tưởng chính thống của phương Đông. Chu Hy thời nhà Tống đã tổng hợp học thuyết này thành Tân Nho giáo. Tân Nho giáo nghiên cứu những vấn đề căn bản của con người và vũ trụ.

Sau đó, Yi Hwang đã phát triển và sáng lập thuyết Minh Triết. Coi đạo lý là đặc tính căn bản của Nho giáo. Thế kỷ 16, Minh Triết vốn coi trọng kiến thức trải nghiệm đã tạo nên dòng Tân Nho giáo mới. Toe Gye coi việc học hỏi một điều gì đó chính là việc giác ngộ đạo lý của cuộc sống. Hiểu thêm về con người, cuộc đời và thông qua đó tìm được hình ảnh thật của chính mình.

Lấy học thuyết Lý Khí làm tư tưởng chủ đạo. Coi Nguyên lý và Sinh khí của một vật như 2 yếu tố có quan hệ tương hỗ một mà hai, hai mà một. Yi Hwang đã xây dựng trường Yeongnam tại tỉnh Gyeongsang, thành lập điện Dosan, tận tâm với việc nghiên cứu và đào tạo hậu duệ. Ông được biết đến như một nhà triết học giáo dục vĩ đại nhất thời Joseon. Toe-gye luôn giữ thái độ khiêm tốn của một học giả. Ông không hề phân biệt vai vế khi tranh luận học vấn với các nhà triết học thuộc thế hệ sau như Ki Dae Seung, Lee Yi. Toe Gye xứng đáng được gọi là Chu Hy của phương Đông.

Trên thực tế, trọng tâm tư tưởng triết học của Toe-gye có thể được thể hiện ngắn gọn bằng một từ kính. Tức là chỉ sự tôn trọng, khiêm tốn của mình đối với tất cả mọi người và vạn vật. Tuy nhiên, từ kính lại được thay bằng từ hài hòa khi áp dụng vào thế kỷ 21. Vì nếu tất cả con người và giới tự nhiên cùng sống dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau thì sẽ tạo ra sự hài hòa trên thế giới. Theo đó giải quyết được những biến đổi khí hậu, mâu thuẫn xã hội hay tranh chấp giữa các quốc gia.

Tư tưởng Nho giáo Toe Gye lần đầu tiên đã gây ảnh hưởng cho người Nhật trong cuộc chiến Nhật – Triều 1592-1598. Ngày nay, các nước trên thế giới như Trung Quốc, Mỹ, châu Âu cũng đã và đang tiến hành các Hội thảo khoa học quốc tế về triết học Toe Gye và nghiên cứu tư tưởng đó như một biện pháp giải quyết các vấn đề của thế kỷ 21.

Phía sau hình học giả Yi Hwang là đại giảng đường chính có tên là Myeongnyundang (명륜당) và hình ảnh hoa mai (매화), loài hoa mà Yi Hwang yêu thích.

Mặt sau của tờ tiền giấy 1.000 Won là phong cảnh 계상정거도 (溪上靜居圖, Khê thượng tĩnh ký đồ) và trường học Dosan, nơi Yi Hwang lui về ở ẩn để nghiên cứu và giảng dạy cho các học trò.

Đồng tiền Hàn Quốc: Giá trị và ý nghĩa các họa tiết
Đồng 1.000 Won với mặt trước là chân dung của người thầy vĩ đại Yi Hwang, mặt sau là Khê Thượng Tĩnh Ký Đồ và trường Dosan.

Đồng 5.000 Won

Không chỉ đồng 1.000 Won. Một học giả Nho giáo nổi tiếng khác thời Joseon cũng được in trên đồng 5.000 Won. Đó là Yi I, hiệu Yulgok (Lật cốc). Cùng với Yi Hwang, Yi I cũng là một học giả hàng đầu của Joseon.

Song, nếu như Yi Hwang từ bỏ quan chức, về xây dựng một cộng đồng văn hóa Nho giáo độc lập tại vùng Andong, tỉnh Gyeongbuk thì Yi I lại là người đưa học vấn vào, hiện thực hóa học vấn trong hoạt động chính trị. Cuộc đời của học giả Yi I là cuộc đời của một nhà tri thức chân chính, có con mắt tinh tường và tình cảm nồng cháy luôn hướng về quốc gia, hướng về bá tính.

Năm 16 tuổi, Yi I lên núi Geumgang để học về Phật giáo. Năm 20 tuổi, đọc sách Luận ngữ, hiểu ra nhiều điều mới quay về quê hương Ô Trúc Viên (오죽헌 / Ohjukheon, 烏竹軒). Những tháng năm bôn ba và sự trưởng thành ở con người đã làm nền tảng tích lũy kiến thức, đem lại tài năng trị nước sau này cho vị đại học giả. Thực tế, khi 23 tuổi Yi I từng tìm đến đàm đạo với học giả Yi Hwang lúc này đã 58 tuổi để nhìn nhận lại về hướng đi trong cuộc sống.

Yi I đã chọn con đường đến với hiện thực để thực hiện chí lớn của mình. Năm đó ông dự khóa Biệt Thí, đỗ trạng nguyên với bài thi viết về Thiên Đạo sách. Sách giải thích lý luận về học thuyết lý – khí. Coi sự vật trên thế gian là sự kết hợp tuyệt diệu của lý và khí. Tính đến khóa Điện Thí, khóa thi chọn quan văn mà ông tham gia năm 29 tuổi thì tổng cộng ông đã 9 lần tham gia các kỳ khoa cử và tất cả đều đỗ đầu bảng. Cũng vì thế, người ta còn gọi ông là Cửu Độ Trạng Nguyên Công.

Đồng tiền giấy 5.000 Won với mặt trước là chân dung của học giả Nho giáo Yi I, mặt sau của đồng tiền là trái bí và hoa mào gà.

Thế kỷ 16 ở Joseon cũng là giai đoạn thế thường có nhiều sự lẫn lộn đảo điên. Kỷ cương, phép tắc của tầng lớp cai trị bị buông lỏng và do đó, tình hình chính trị rơi vào hỗn loạn. Sự suy yếu về kinh tế của người dân trở thành vấn đề xã hội nghiêm trọng.

Để chỉnh đốn lại mọi việc, cứu giúp dân sinh, Yi I đã lập ra hương ước và đưa ra phương án cải cách gọi là Xã hội canh trương luận. Về đại thể, đây là phương án cho thấy nhà nước cần phải có chỉnh sửa về chế độ cho phù hợp với thời cuộc. Giống như để duy trì được ngôi nhà tổ tiên để lại thì cần có thợ giỏi để thay và sửa các trụ cột trong nhà.

Trong Seonghakjipyo (Thánh Học Tập Yếu) biên soạn năm 1575, ông muốn sửa chữa các vấn đề sai trái bằng những lời nói ngay thẳng. Chẳng hạn như có câu: Vua phải coi dân như trời nhưng thứ người dân coi như trời lại là lương thực để ăn. Ông cũng đã đưa ra Thập vạn dưỡng binh thuyết. Cho rằng phải chuẩn bị về quân sự, nuôi dưỡng lực lượng với 100 nghìn binh sĩ vì Joseon bấy giờ đang yếu, trong vòng 10 năm tới quốc gia sẽ khó tránh khỏi họa chiến tranh. Tuy nhiên, sự phân tranh bè phái giữa nhóm Dongin (Đông Nhân) và Seoin (Tây Nhân) cuối cùng đã khiến Yi I phải từ bỏ quan chức mà chưa thực hiện hết được ý đồ.

Năm 48 tuổi, sau hơn 20 năm làm quan, Yi I đã trở về quê. 1 năm sau đó, năm 1584 ông đã qua đời. Về sau vua Injo (Nhân Tổ) thương tiếc, ban cho tên thụy là Văn Thành để tưởng nhớ tới công đức của ông.

Chủ trương đầy tính cải cách và thực tiễn của ông về sau đã trở thành kim chỉ nam, dẫn dắt, hình thành nên học phái Kiho (Kì Hồ học phái). Nhóm các nhà Nho học ở một số địa phương theo tư tưởng của Yi I. Yi I đã trở thành người có công hiến to lớn cho sự phát triển của Nho học thời Joseon, thành sức mạnh hoạt động của giới học giả sau này.

Tinh thần dựa vào nghĩa binh để hiện thực hóa xã hội của ông cũng đã được tiếp nối bởi các vị tướng lĩnh nghĩa quân chống ngoại xâm mà đứng đầu là học giả Song Si Yeol của giai đoạn cuối thời Joseon. Học thức sâu rộng vô bờ và ý chí sắt đá của Yi I cho tới nay vẫn luôn là yếu tố thức tỉnh về mặt tinh thần và là tiêu chí trong cuộc sống của người dân Hàn Quốc.

Phía sau chân dung Yi I là hình ảnh nơi ông sinh ra, Ô Trúc Viên, nay ở Gangneung, và những bụi tre mọc quanh khu nhà.

Mặt sau của tờ tiền là hình ảnh trái bí và hoa mào gà (맨드라미). Đây là hình ảnh được trích trong tác phẩm bát bình phong, vẽ cây cỏ và côn trùng có tên là Thảo Trùng Đồ (초충도,草蟲圖), một trong những tác phẩm nổi tiếng của bà Shin Saimdang.

Đồng 10.000 Won

Trên đồng tiền giấy 10.000 Won của Hàn Quốc là chân dung vua Sejong (Thế Tông Đại đế). Vị vua thứ 4 của triều Joseon, người sáng lập ra bảng chữ cái Hangeul.

Sejong là vị vua được kính trọng nhất trong lịch sử Hàn Quốc. Ông đã được đúc tượng, đặt ở quảng trường Gwanghwamun cùng với tướng quân Yi Sun Shin. Vua Sejong sinh ngày 15/5/1397, là con trai thứ ba của vua Taejong. Nếu chiểu theo luật thời Joseon lúc bấy giờ là chỉ có con trai cả mới được quyền kế vị ngai vàng thì ông không phải là người sẽ được lựa chọn để nối ngôi cha. Nhưng hoàng tử cả Yangryeong Daekun (Dương Lệnh Đại Quân) bị than phiền là có nhiều hành động kỳ dị không xứng làm vua, còn hoàng tử thứ hai Hyoryeong Daegun (Hiếu Lệnh Đại Quân) đã nhường quyền kế vị cho em và năm 1418 Sejong chính thức được trao quyền vương thế tử. Tháng 8 cùng năm, tiếp nhận vương quyền từ vua cha Taejong và lên ngôi vua vào năm 22 tuổi.

Nhân vật lịch sử Hàn Quốc
Hoàng đế Sejong – Vị vua anh minh nhất của triều đại Joseon

Truyền rằng ngay từ thủa nhỏ vua Sejong đã ham đọc sách. Tới mức từng đọc 100 lần cuốn kinh thư vào năm 1420, khi mới 2 tuổi! Sau khi lên ngôi, ông đã cho tập hợp các nhân tài trẻ tuổi có đức độ lỗi lạc trên khắp cả nước, lập Tập Hiền Điện. Đây là cơ quan đầu não của nghiên cứu chế độ và phương hướng đưa đất nước theo nho giáo. Kết quả là đã cho biên soạn nhiều cuốn sách như cuốn Nông Sự Trực Thuyết là sách dạy cách làm nông nghiệp phù hợp với đất đai của Hàn Quốc. Cuốn Hương Ước Tập Thành Phương ghi chép cách chữa trị bệnh tật lấy các loại cây thuốc được trồng ở các khe suối của Hàn Quốc. Không những thế chế độ thi tuyển quan lại, thuế má, hình pháp… cũng được sửa đổi bổ sung.

Lịch sử Hàn Quốc
Huấn Dân Chính Âm – Bảng chữ cái Hàn Quốc do hoàng đế Sejong phát minh ra.

Khác với vua cha của mình, trước khi quyết định các vấn đề hệ trọng thì ông đều cho tiến hành bàn bạc lấy ý kiến. Ông đi đầu trong việc điều hoà giữa vương quyền và dân quyền. Tích cực mở rộng bờ cõi như phái tướng Choi Yun Deok (1376-1554) tới vùng sông Áp Lục. Cho tướng Kim Jong Seo (1383~1453) tới vùng sông Duman để khai hoang lập địa, đánh đuổi quân Yo Jin, lập 4 tỉnh 6 trấn và xác lập đường biên giới phía Bắc của Joseon.

Sejong Đại đế cũng dành nhiều quan tâm tới lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Ông đã cho chế tác máy đo lượng mưa trước phương Tây tới 200 năm, làm ra đồng hồ nước, đồng hồ mặt trời giúp bách tính trong thực tiễn sinh hoạt. Đã điều chỉnh và phát triển nhã nhạc vốn là nhạc tế lễ cung đình du nhập từ Trung Quốc vào thông qua nhạc gia tài ba Park Yeon để cho hợp với âm luật của Joseon.

Lịch sử Hàn Quốc
Hỗn thiên thời kế – Đồng hồ thiên văn thời Joseon, dùng để chỉ ra vị trí của các chòm sao trong vũ trụ.

Câu mà vua Sejong vẫn thường nói trong thời gian trị vì là: Dân là gốc rễ của quốc gia đồng thời là mặt trời của quân chủ. Điều đó chứng tỏ vua Sejong luôn hết lòng vì dân, đã dồn hết sức để xây dựng nên quốc gia vì bách tính. Thành tích tiêu biểu nhất về mặt chính trị của Sejong chính là sáng chế ra Huấn Dân Chính Âm.

Lịch sử Hàn Quốc đã trải qua hàng nghìn năm. Nhưng tới tận lúc bấy giờ bách tính vẫn không có chữ viết truyền thống của dân tộc mà phải mượn chữ Hán của Trung Quốc. Rất nhiều trường hợp người dân thậm chí không thể đọc nổi bảng yết thị trên chính quốc gia của mình, dù có uất ức cũng không dám kêu than mà chỉ cam chịu.

Vì thế, nhằm giúp bách tính không biết chữ Hán cũng có thể dễ dàng đọc được chữ mà ông đã sáng tạo nên 28 chữ cái bao gồm cả nguyên âm và phụ âm căn cứ trên cơ quan phát âm để làm nên loại văn tự có tính sáng tạo độc đáo và tiện lợi, có thể viết được theo âm đọc. Nhưng quá trính sáng chế cũng đã gặp phải những ý kiến phản đối mạnh mẽ cho rằng vốn đã tiếp nhận nền văn vật và chế độ của Trung Quốc giờ nếu sử dụng lời nói và chữ viết riêng của dân tộc mình thì có thể gây khích động tới Trung Quốc, vả lại đã có chữ Idu (loại chữ viết giống như chữ Nôm của Việt Nam) rồi nên không cần hệ thống chữ viết Hangeul.

Đồng tiền Hàn Quốc: Giá trị và ý nghĩa các họa tiết
Đồng 10.000 Won với mặt trước là chân dung hoàng đế Sejong, mặt sau in hình Hỗn Thiên Thời Kế.

Nhưng vua Sejong cho rằng nhất định phải cần một loại văn tự truyền thống vì lòng tự tôn dân tộc dân chủ và tiện ứng dụng thực tế nên đã nỗ lực hết sức để làm nên chữ viết cho bách tính. Huấn Dân Chính Âm hay còn gọi là Âm chuẩn dạy cho người dân được ban bố vào tháng 9 năm 1446 âm lịch.

Với sự ra đời của Hangeul, bách tính Joseon có được chữ viết của dân tộc mình. Cuộc sống trở nên thuận lợi hơn nhiều và chỉ tính riêng đến việc phát triển tiểu thuyết Hangeul của thường dân thôi thì nó đã có đóng góp to lớn vào việc mở rộng nền tảng văn hoá Joseon.

Vua Sejong đã dành công sức để đạt được những thành quả siêu việt ở nhiều lĩnh vực đa dạng như thế. Nhưng từ những năm đầu của tuổi 30 ông mắc bệnh phong và băng hà năm 1450 thọ 64 tuổi. Nhưng với đức tin Làm cho bách tính của ta sống đúng nghĩa con người, ông đã phát triển chính trị nho giáo mang tính lý tưởng và tạo nên kỳ tích cho triều đại Joseon thế kỷ 15. Hậu thế vẫn gọi ông là Daewang (Đại vương), vị vua vĩ đại nhất của triều đại Joseon.

Mặt sau của tờ tiền 10.000 Won là Kính thiên văn quang học (광학천체망원경) và đồng hồ thiên văn Hỗn thiên thời kế (Honch’ŏnsikye, 혼천시계, 渾天時計) do Tống Dĩ Dĩnh (송이영, 宋以穎) chế tạo vào năm 1669. Đồng hồ có một quả cầu nằm bên trong các vòng kim loại có đường kính 40 cm. Quả cầu được kích hoạt bởi một cơ cấu đồng hồ, chỉ vị trí của vũ trụ cho ở bất cứ thời điểm nào.

Đồng 50.000 Won

Một điều thú vị là nếu học giả Yi I – Yulgok được in hình lên đồng 5.000 Won thì mẹ của ông, bà Shin Saimdang (신사임당) lại được chọn in hình lên đồng tiền giấy có mệnh giá cao nhất Hàn Quốc, đồng 50.000 Won. Bà nổi tiếng trong lịch sử với nhiều tư cách, vừa là một nữ nghệ sĩ tiêu biểu của giai đoạn trung kỳ thời Joseon vừa là một người mẹ với nhân cách tuyệt vời đã đào tạo nên một học giả thiên tài.

Văn hóa gia đình theo phụ hệ được biết là rất phát triển dưới triều Joseon nhưng nó chỉ ăn sâu bám rễ vào xã hội từ sau thế kỷ 17, còn giai đoạn giữa thời Joseon cũng đã có nhiều gia đình lấy nơi ở của phụ nữ làm trọng tâm, con gái có thể sống cùng và phụng dưỡng cha mẹ đẻ của mình.

Shin Saimdang sinh ra và lớn lên trong một gia đình coi trọng mẫu hệ như vậy và với sự hậu thuẫn tích cực, mua sắm giấy bút của bà ngoại, từ khi 7 tuổi bà đã bắt đầu tự học vẽ tranh. Nhờ có sự giúp đỡ hết lòng này mà Shin Saimdang đã thể hiện được tài năng trời phú, thể hiện được những đường nét tinh tế và sắc màu phong phú qua các bức tranh như vẽ sâu cỏ, cành nho, cây mai, hoa lan v.v…

Đồng 50.000 Won với mặt trước in hình Bà mẹ thông thái Shin Saimdang, mặt sau là tác phẩm Nguyệt Mai Đồ của họa sĩ Ngư Mộng Long.

Tranh của Shin Saimdang nổi tiếng là tinh tế và sống động, tới mức có chuyện kể lại rằng, một ngày, bà vẽ tranh châu chấu đậu trên cành cây Toan tương (hoa lồng đèn) và tặng cho một người họ hàng. Khi người này trải tranh ra, bức tranh trông thực đến mức gà ngoài sân cũng tưởng là châu chấu mà lao vào mổ. Các học giả cùng thời với Shin Saimdang, ai cũng tán tụng, so sánh tài của bà với An Gyeon, một họa sĩ lớn của Joseon giai đoạn trước.

Shin Saimdang còn được biết đến là người giỏi về thơ văn, từ nhỏ đã ham đọc kinh thư Nho giáo và văn chương của các bậc thánh hiền, đồng thời vẫn có tài thêu thùa, kim chỉ vượt bậc nên được coi là nữ nghệ sĩ tiêu biểu của giai đoạn trung kỳ thời Joseon.

Năm 1522, Shin Saimdang kết hôn ở tuổi 19, lấy chồng là Yi Won Su, một quan văn thuộc nhánh họ Yi gốc Deoksu. Do phía nhà ngoại không có con trai, nên sau khi kết hôn, được sự đồng ý của nhà chồng và gia đình chồng, Shin Saimdang thường xuyên về sống ở nhà cha mẹ đẻ. Shin Saimdang sinh hạ được 4 người con trai, 3 người con gái và sinh sống ở cả 2 bên nội ngoại như vậy khiến mọi người phải kính trọng, gọi bà là Vị phu nhân đức hạnh họ Shin.

Sau khi kết hôn, Shin Saimdang dồn hết tâm sức vào việc giáo dục con cái. Với tình yêu thương và sự nghiêm khắc, bà đã dạy dỗ cho các con mình nên người một cách rất tuyệt vời. Cũng vì vậy mà bà đã tự đặt cho mình cái tên hiệu là Saimdang – Sư Nhậm Đường với ý nghĩa là noi theo tấm gương của bà Thái Nhậm, người phụ nữ hiền thục nhất trong lịch sử Trung Quốc, mẹ của bậc thánh quân nhà Chu là vua Văn Vương.

Đặc biệt, con trai thứ ba của Shin Saimdang tên là Yi I hiệu là Lật Cốc. Sau khi đỗ thi tiến sĩ ở tuổi 13 đã đỗ đầu tất cả 9 kỳ khoa cử, được gọi là Cửu Độ Trạng Nguyên Công, trở thành một học giả lớn của thời Joseon. Bên cạnh đó, Shin Saimdang còn nuôi dạy cho con gái đầu lòng là Mae Chang và con trai thứ tư là Yi Woo cũng trở thành nghệ sĩ tài ba trong lĩnh vực thơ ca và hội họa. Đối với tài đức của Yi I, ở thời Joseon, nhiều người cho rằng đó chính là nhờ quá trình thai giáo của từ mẫu Shin Saimdang.

Không chỉ là người mẹ hiền, Shin Saimdang còn là một người vợ đảm, hết lòng khích lệ chồng trong sự nghiệp làm quan triều đình. Bà đã làm tròn bổn phận của một người vợ có đạo đức và nhân cách cao quý, luôn hỗ trợ chồng đi theo con đường chính nghĩa.

Tuy thời điểm chồng đi nhậm chức Thủy Vận Phán Quan ở tỉnh Pyeongan vào năm 1551, Shin Saimdang đã qua đời ở tuổi 48 nhưng sau đó, tên tuổi của bà lại càng trở nên nổi tiếng, được người đời sau tán dương ca ngợi, trở thành biểu trưng cho người phụ nữ đức hạnh của Hàn Quốc. Chính bởi những phẩm chất đó nên bà còn được biết đến với biệt danh Bà mẹ thông tháivà là hình mẫu lý tưởng mẹ hiền dâu thảo (현모양처) của người phụ nữ Hàn Quốc.

Việc đưa hình ảnh một phụ nữ như vậy lên đồng tiền mệnh giá cao nhất Hàn Quốc đã truyền đi thông điệp của chính phủ Hàn Quốc cổ vũ bình đẳng giới và sự tham gia của phụ nữ vào hoạt động xã hội.

Mặt sau của tờ tiền 50.000 Won là tác phẩm Nguyệt Mai Đồ (월매도,月梅圖) của họa sĩ thời Joseon Ngư Mộng Long (Omong-nyong) (어몽룡-魚夢龍) và Phong trúc đồ (풍죽도,風竹圖) của họa sĩ Lý Đình (이정-李霆).

III – Những điều thú vị về đồng tiền Hàn Quốc

1. Danh nhân đầu tiên xuất hiện trên đồng tiền Hàn Quốc (trên đồng tiền giấy 500 Hwan, năm 1956) là tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc Lee Seung Man. Tuy nhiên đến năm 1960, với sự thoái vị của Tổng thống Lee Seung Man, thì số mệnh của đồng tiền này cũng kết thúc tại đây.

Trong quá trình sử dụng đồng tiền này, có một sự cố xảy ra là hình tổng thống Lee Seung Man được in ngay ở chính giữa đồng tiền, nên nhiều khi bị người dân gập lại hay xé rách phần hình Tổng thống để ngầm tỏ ý phản đối chế độ độc tài. Điều này khiến tổng thống tức giận nên vào năm 1958, hình ảnh tổng thống đã được dịch chuyển về phía bên tay phải tờ tiền.

Đồng tiền tai tiếng 500 hwan với hình chân dung tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc Lee Seung Man.

2. Tờ tiền phát hành ngày 16 tháng 5 năm 1962 và bị thu hồi vào ngày 10 tháng 6 cùng năm có in hình hai mẹ con. Đây là hình người vô danh duy nhất trong lịch sử đồng tiền Hàn Quốc.

Đồng tiền yểu mệnh có in hình 2 mẹ con và bị thu hồi sau sau khi phát hành chỉ đúng một tháng.

3. Năm 1972, đồng tiền giấy mệnh giá 10.000 Won đầu tiên đã được phê duyệt in hình tượng Phật Thích Ca Mâu Ni chính (tại Seokguram, Am Thạch Quật, cao 3,45m và được đặt trên một bệ hình hoa sen). Đầu tóc búi thành nhiều búi xoăn nhỏ, đầu đội một chiếc cà sa đặc biệt, những vùng nổi lên trên đỉnh đầu biểu trưng cho Trí tuệ Tối cao. Dưới vầng trán rộng là đôi lông mày hình trăng lưỡi liềm và ánh mắt hé mở nhìn ra phía Biển Đông. Áo choàng của Đức Phật được treo bên vai phải; họa tiết của phần áo che cánh tay trái và ngực được miêu tả rất thật. Đức Phật được mô tả ngồi quàng chân, hai tay đang ở vị trí bhumisparsha mudra, là cử chỉ khi Đức Phật trong lịch sử báo cho chúng sinh biết Ngài đã chánh đẳng chánh giác.

Tuy nhiên, hình ảnh này sau đó đã bị phản đối vì mang tính tôn giáo quá sâu sắc. Do vậy đến năm 1973, hình ảnh này đã được thay bằng biểu tượng vua Sejong và Cần Chính Điện (Cung Cảnh Phúc). Do có sự thay đổi này mà tờ tiền mệnh giá 10.000 Won phát hành muộn hơn một năm so với đồng 5.000Won.

4. Năm 1972, hình ảnh Học giả Yi I hiệu Yulgok (tờ 5.000 Won) và hoàng đế Sejong (10.000 Won) do điều kiện trong nước chưa đủ để in nên đã nhờ công ty thiết kế của Anh thiết kế. Do đó vào thời kỳ này, hình ảnh của Học giả Yi I và vua Sejong được thiết kế theo phong cách Tây phương có mắt to và mũi cao. Phải đến 5 năm sau, tức năm 1978 thì hai danh nhân này mới được vẽ lại theo hình ảnh gần gũi với người dân Hàn Quốc hơn và được sử dụng cho đến ngày hôm nay.

5. Năm 2009, hai tờ tiền có mệnh giá lớn nhất là tờ 50.000 Won và tờ 100.000 Won đã được phát hành. Tờ 50.000 Won như ta đã biết có in hình của Shin Saimdang. Tờ 100.000 Won có in hình của Kim Gu (김구 金九, Hán Việt: Kim Cữu, 29/8/1876 – 06/6/1949), là tổng thống thứ 6 và là tổng thống cuối cùng của Chính phủ lâm thời Đại Hàn Dân quốc. Kim Gu là một nhà chính trị, nhà giáo dục, lãnh đạo của phong trào độc lập Triều Tiên chống lại sự chiếm đóng của Nhật Bản đối với Triều Tiên tồn tại từ năm 1910 đến năm 1945. Ông còn là nhà hoạt động thống nhất đấu tranh cho thống nhất Triều Tiên từ khi đất nước này chia cắt năm 1945. Ông cũng có bút danh là Baekbeom (백범 白凡), được xem là một trong những nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử Triều Tiên.

6. Tờ tiền giấy có mệnh giá 100.000 Won dự định sẽ phát hành vào năm 2015 nhưng cuối cùng đã không trở thành hiện thực.

Đồng 100.000 Won dự định phát hành vào năm 2015 với chân dung của cố tổng thống Park Chung Hee. Tuy nhiên, hiện vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh việc đưa chân dung Park Chung Hee lên đồng tiền.

7. Bộ đồng tiền kỷ niệm (기원기념주화, Commemorative Coins) phát hành năm 1970 của chính phủ Hàn Quốc.

Lịch sử Hàn Quốc qua đồng tiền
Bộ đồng tiền kỷ niệm (기원기념주화,Commemorative Coins) phát hành năm 1970 của chính phủ Hàn Quốc.

8. Đồng tiền vàng chúc mừng sinh nhật Kim Jung Il của Triều Tiên

Lịch sử Hàn Quốc qua đồng tiền

Đồng tiền kỷ niệm ngày sinh của chủ tịch Bắc Triều Tiên – Kim Sung Il

Hy vọng sau bài viết này bạn đã biết tỉ giá đổi tiền Hàn Quốc sang tiền Việt Nam Đồng.  Và hiểu thêm phần nào về lịch sử hình thành của tiền Hàn Quốc qua các thời kì. Chúc bạn khỏe mạnh và thành công trong cuộc sống !

 

Nguồn http://korea.net.vn / Sưu tầm